Thông tin sách "Thanh Cung mười ba triều (bộ 3 tập)"
Nhà
Thanh là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Mông Cổ và Trung
Quốc. Trong thời gian trị vì, nhà Thanh đã củng cố quyền lực và đạt tới tầm ảnh
hưởng cao nhất của Đế quốc Trung Hoa.
Thanh
cung mười ba triều là
cuốn tiểu thuyết lịch sử được viết theo kiểu tiểu thuyết chương hồi, gồm 03 tập,
một trăm bảy mươi hai hồi, kể những chuyện “thâm cung bí sử” trong cung của mười
ba triều đại nhà Thanh. Trong sách, có rất nhiều chuyện ly kỳ, hấp dẫn, cả
chuyện xấu xa, chuyện hoang đường và mưu mô của những kẻ sống trong cung
cấm...
Trong
giai đoạn lịch sử Trung Quốc gần ba trăm năm dưới triều đình Nhà Thanh, từ Ngô
Tam Quế đến khi chấm dứt ở đầu thế kỷ XX, tổng cộng tất cả mười đời vua, trong
khoảng hai trăm sáu mươi tám năm. Nhà Mãn Thanh trước khi vào Trung Quốc, lúc
còn ở Mãn Châu đã có ba đời vua; cộng lại là mười ba đời vua. Do đó, bộ tiểu
thuyết lịch sử này mới có tên là Thanh cung mười ba
triều.
Một
số trích đoạn
Hồi
thứ nhất
NUÔI
ONG TAY ÁO
Năm
trước, Thư Nhĩ Cáp Tề theo anh là Nỗ Nhĩ Cáp Tề vào Trung Quốc tiến cống nhà
Minh, thấy cung điện lâu đài của vua Minh tráng lệ nguy nga, lấy làm khâm phục
và thích thú.
Hắn
còn được Thần Tông hàng đế thưởng tứ nên lại càng cảm thấy vinh dự. Bởi vậy, khi
về nhà hắn chẳng coi anh hắn ra gì. Ít lâu sau, Nỗ Nhĩ Cáp Tề khởi công xây cất
cung điện bắt chước nếp sống đế vương hoa lệ của vua Minh thì Thư Nhĩ Cáp Tề
càng ham hố cái khoái lạc của một vương gia.
Thư
Nhĩ nghĩ rằng hai anh em hắn đều là con trai của Tháp Khắc Thế thì không có lý
do gì mà chỉ mình anh hắn được hưởng phúc còn hắn phải chịu mãi cái kiếp tôi mọi
cho anh hắn. Nỗ Nhĩ Cáp Tề thường đem Thư Nhĩ đi đánh trận nên hắn cũng lập được
chiến công, bởi vậy hắn càng ngày càng làm tàng, thậm chí nhiêu khi ở trước mặt
anh, hắn cũng bất chấp cả luật lệ. Nỗ Nhĩ Cáp Tề biết vậy nhưng vì tình nghĩa
anh em, lại cùng nhau chịu hoạn nạn từ nhỏ, nên bỏ qua, chẳng trách cứ gì. Không
ngờ Thư Nhĩ lại cho rằng ông anh sợ, nên hắn ngầm điều binh khiền tướng, chuẩn
bị một cuộc đảo chính… Hắn có hai đứa con trai, thằng cá gọi là A Mân; thằng thứ
gọi là Tế Nhĩ Cáp Lãng. Hắn lại có đến cả vài ngàn binh sĩ thủ hạ dưới quyền.
Trong nhóm âm mưu này, còn có cả đứa con thứ sáu của Nỗ Nhĩ Cáp Tề, tên gọi là
Chữ Anh.
Chữ
Anh thấy cha mình quý hai đứa con khác mẹ là Đại Thiện và Hoàng Thái Cực nên đem
lòng oán hận, ngầm nuôi quân lính, cấu kết với ba cha con Thư Nhĩ thành một bè
cánh khá mạnh.
Ba
cha con Thư Nhĩ vốn cũng ở trong thành Hưng Kinh với Nỗ Nhĩ, sợ việc mưu phản có
chỗ bất tiện và khó bề bảo mật nên ngầm sai gia nhân đến vùng Hắc Chỉ Mộc xây
cất cung điện lâu đài, giống hệt của Nỗ Nhĩ. Chúng định ước với Chữ Anh sau khi
chuyển qua Hắc Mộc Chỉ rồi, sẽ mang quân về đánh Hưng Kinh. Chữ Anh mai phục
quân sĩ ở trong thành, khi nghe hiệu pháo nổ tức thì khởi binh, nội ứng ngoại
hợp, ắt thế nào cũng thành công. Chẳng ngờ A Ba Thái lượm được tin này vội về
nói với mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La Thi.
Bà
này vốn là vợ của Nỗ Nhĩ Cáp Tề nhưng từ khi Nỗ Nhĩ lấy thêm một nàng hầu tên O
Lạp Thị thì bị thất sủng. Nay được tin này, bà muốn lấy lòng chồng, nên bảo con
tới tố cáo ngay cho Nỗ Nhĩ biết.
Nỗ
Nhĩ Cáp Tề nghe A Ba Thái nói xong, đột nhiên cả giận, tức khắc sai Hỗ Nhĩ Cổ
điểm binh mã chờ lệnh. Nỗ Nhĩ bảo Hỗ Nhĩ Cổ:
-
Ngươi đem bốn ngàn quân vào thành, đóng chặt cổng lại, rồi đi bắt ba cha con Nhị
bối lặc cùng cả công tử Chữ Anh điệu về đây cho ta tức khắc!
Hỗ
Nhĩ Cổ thấy sắc mặt Nỗ Nhĩ đầy sát khí, chẳng dám nhiều lời, vội lĩnh mệnh đi
ra. Hỗ Nhĩ Cổ vừa quay gót thì Nỗ Nhĩ kêu lại bảo thêm:
-
Nếu bọn chúng kháng mệnh, ngươi hãy chém ngay, mang thủ cấp về cho
ta!
Hỗ
Nhĩ Cổ điểm đủ bốn ngàn quân đóng ập cổng thành rồi chia làm ba cánh; cánh hai
ngàn chia nhau giữ chặt bốn cửa, cánh một ngàn bảo vệ đô đốc phủ, còn cánh một
ngàn do chính y chỉ huy tới bao vây phủ đệ của Thư Nhĩ như một bức thành đồng,
con kiến cũng khó lọt qua. Hỗ Nhĩ Cổ đem ba trăm thần binh xông qua cửa trước mà
vào. Trong nhà, ai nấy hoảng hồn bạt vía, người nào chân cũng như đinh đóng
xuống đất, không nhúc nhích được nửa bước.
Hồi
thứ hai
BẢY
ĐIỀU HẬN LỚN
Sáng ngày thứ hai, mới vừa canh năm, Anh Minh hoàng đế đã trở dậy toạ
trào. Từ đó, ông phỏng theo hoàn toàn cách thức của triều Minh, từ cung điện lâu
đài đến cấp bậc quan tước. Thỉnh thoảng ông lại triệu các bối lặc, đại thần cùng
rời cung du ngoạn hoặc bàn tính quốc gia đại sự.
Hồi
đó, Anh Minh hoàng đế rất căm giận Minh triều vì họ đã khinh khi ông nhiều lần.
Ông thường đưa chuyện này ra cùng các đại thần bàn luận để tìm cách báo thù. Một
hôm thám mã tại biên quan về tâu:
-
Dân chúng miền biên tái của Minh triều thường vượt biên giới để trộm nhân sâm và
đông mộc.
Anh
Minh hoàng đế tức khắc hạ thánh chi, sai Đạt Nhĩ Hán và thị vệ Hỗ Nhĩ Hán đem
quân tới biên giới tuần tra, nếu thấy người Minh vượt tuyến thì giết
sạch.
Viên
thị vệ Hỗ Nhĩ Hán y lệnh, giết đến năm mươi người Minh. Anh Minh hoàng đế còn
sai Võng Cổ Lý, Phương Cáp Nạp tới gặp Quảng Ninh tuần phú là Lý Duy Hãn, hạch
hỏi về chuyện vượt biên đó.
Lý
Duy Hãn nghe nói quân Mãn giết chết dân mình, nổi giận đùng đùng, liền sai bắt
hai sứ thần Kim Quốc, bắt luôn chín tên tuỳ tùng, trói chặt lại, một mặt viết
thư gửi Nỗ Nhĩ Cáp Tề đòi đền mạng. Nỗ Nhĩ lòng tuy tức giận nhưng sứ thần hiện
bị bắt giam thành thử đành thở dài, cho đưa mười tên phạm nhân bắt được ở Diệp
Hách bộ hồi trước đến phủ Thuận Quan, nhất loạt chém hết, giả bộ đền mạng cho
những người Minh bị giết. Nhờ vậy, Võng Cổ Lý và Phương Cáp Nạp mới toàn mạng
trở về.
Anh
Minh hoàng đế tuy nói nhất thời nhẫn nhục cho qua nhưng thực ra ý niệm báo thù
ngày càng sâu thêm mãi.
Vào
tháng giêng năm thứ ba, niên hiệu Thiên Mệnh, một hôm Nỗ Nhĩ Cáp Tề vừa thức
dậy, sửa soạn ra thị triều, khi đẩy cánh cửa sổ nhìn ra ngoài thì chỉ thấy nơi
vầng trăng mờ nhạt còn treo lủng lẳng góc trời tây một làn khói vàng vắt ngang,
dài tới hơn bốn trượng, rộng có tới hai thước. Ông liền quan sát kỹ lưỡng rồi
bất giác cười phá lên, nói:
-
Khí số nhà Minh hết rồi! Đây là điềm báo nước Kim của ta đang vượng
lên.
Bà
Kế đại phi đứng ở đằng sau, cũng đang xem hiện tượng lạ lùng đó, chợt nghe lời
Anh Minh hoàng đế, bèn hỏi:
-
Bệ hạ lấy gì làm bằng cớ mà nói vậy?
Anh
Minh hoàng đế nói:
-
Khanh không thấy đó sao? Cái mặt trăng kia há không phải triều Minh sao? Mặt
trăng sáng nhưng ánh sáng nhạt mờ há không phải là điềm báo của sự suy vong? Bây
giờ, khanh xem tới làn khói vàng kia đi, nó ứng vào nước Kim ta đấy. Chữ Kim có
nghĩa là vàng, tức là sắc vàng. Làn khói vàng kia, rất sáng, há lại không phải
điềm báo nước Kim ta sẽ thịnh vượng ư? Hơn nữa, làn khói vàng lại còn vắt úp lên
trên vầng trăng thì nước Kim diệt nước Minh há là đương nhiên rồi.
Bà
Kế đại phi nghe giải thích mới hiểu ra, vội quỳ lạy, luôn mồm tung hô vạn tuế.
Anh Minh hoàng đế vội nâng dậy, hối hả đòi ra thị triều.
Văn
võ bá quan triều bái xong, Anh Minh hoàng đế bèn đem thiên tượng vừa xảy ra lúc
ban mai rồi kết luận:
-
Ý trời đã định. Chư khanh chớ nghi ngại nữa. Trẫm đã quyết, năm nay ta phải đánh
người Minh.